Mục tiêu:
Cập nhật Tổng quan hệ thống và phân tích gộp trong việc so sánh giữa việc sử dụng sắt đường truyền tĩnh mạch và sắt đường uống trong điều trị thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ có thai.
Phương pháp nghiên cứu:
Tổng quan hệ thống và phân tích meta cập nhật các nghiên cứu từ thông qua các Cơ sở dữ liệu: Embase, Scopus, Ovid MEDLINE, Cochrane, và ClinicalTrials.gov từ 17/02/2018 – 05/05/2025.
Tiêu chí đánh giá:
Tiêu chí chính là nồng độ hemoglobin và ferritin của mẹ sau sinh. Tiêu chí phụ bao gồm: tình trạng truyền máu, phản ứng với thuốc và tình trạng sức khoẻ sơ sinh. Dữ liệu được phân tích thông qua sự khác biệt trung bình có trọng số gộp (WMD) và nguy cơ tương đối (RR) với khoảng tin cậy (CI) 95%. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiến hành các phân tích phân tầng theo kế hoạch từ trước nhằm đánh giá xem nồng độ hemoglobin trước điều trị (≤9 g/dL so với >9 g/dL) có ảnh hưởng đến kết quả hay không.
Kết quả:
Nghiên cứu đã xác định thêm 10 thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (RCT) mới, đồng thời loại trừ 1 RCT bị thu hồi khỏi phân tích gộp ban đầu, đưa tổng số lên 29 RCT bao gồm 11.771 đối tượng tham gia độc lập.
So với việc sử dụng sắt đường uống, sử dụng sắt đường tĩnh mạch có liên quan đến việc làm tăng nồng độ hemoglobulin (WMD trong 15 nghiên cứu, 0.59 g/dL [95% CI, 0.31-0.87 g/dL]) và ferritin (WMD trong 8 nghiên cứu, 50.93 ng/mL [95% CI, 33.56-68.29 ng/mL]) ở mẹ sau sinh, và ferritin ở trẻ sơ sinh (WMD trong 8 nghiên cứu, 21.38 ng/mL [95% CI, 5.50-37.25 ng/mL]).
Đồng thời việc sử dụng sắt đường tĩnh mạch làm giảm 37% tỷ lệ cần truyền máu trong thời gian nằm viện sau sinh (RR trong 14 nghiên cứu: 0,63 [CI 95%: 0,49-0,82]), đặc biệt ở nhóm sản phụ có nồng độ hemoglobin điều trị ≤9 g/dL (RR trong 6 nghiên cứu, 0.58 [95% CI, 0.45-0.76]).
Không có biến cố bất lợi nghiêm trọng nào được ghi nhận. Sử dụng sắt đường tĩnh mạch có liên quan đến việc làm giảm 43% tỉ lệ xảy ra các tác dụng không mong muốn mức nhẹ (RR trong 31 nghiên cứu, 0.56 [95% CI, 0.41-0.76]).
Kết luận:
Tổng quan hệ thống và phân tích gộp của 29 thử nghiệm lâm sàng. So với việc sử dụng sắt đường uống, sử dụng sắt đường truyền tĩnh mạch trong điều trị thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai có liên quan đến việc cải thiện các chỉ số huyết học của sản phụ và lượng sắt dự trữ ở trẻ sơ sinh, đồng thời giảm tỷ lệ cần truyền máu cà các tác dụng phụ nhẹ mà không làm tăng nguy cơ xảy ra các biến cố bất lợi nghiêm trọng. Kết quả này cũng củng cố và mở rộng vai trò của liệu pháp sử dụng sắt đường truyền tĩnh mạch trong điều trị thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ có thai.
Nguồn:
Sales, S. K., Rajprohat, S., Simon, L., Hardi, A., Stoll, C., Benson, A. E., Shatzel, J. J., Lo, J. O., Tuuli, M. G., & Lewkowitz, A. K. (2026). Intravenous vs oral iron for treating iron deficiency anemia in pregnancy. JAMA Network Open, 9(9). https://doi.org/10.1001/jamanetworkopen.2026.30657 (Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ)